• Công Nghệ
  • Ẩm Thực
  • Kinh Nghiệm Sống
  • Du Lịch
  • Hình Ảnh Đẹp
  • Làm Đẹp
  • Phòng Thủy
  • Xe Đẹp
  • Du Học
tiếng việt

ĐẠO HIẾU TRONG TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM

04:51 03/03/2026

Hiếu là đức tính tốt đẹp của con người, là triết lý sống, là nguyên tắc ứng xử, là một tiêu chuẩn trong đánh giá con người, là chuẩn mực hàng đầu của đạo làm người. Hiếu được người Việt Nam nâng lên thành một đạo - đạo Hiếu, đạo làm con, là sự cụ thể của đạo lý uống nước nhớ nguồn trong quan hệ giữa con cháu đối với ông bà, cha mẹ. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, việc giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống, trong đó có đạo hiếu là hết sức cần thiết. Đạo hiếu được cha ông ta đúc kết một cách sâu sắc, sinh động trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, có ý nghĩa giáo dục rất lớn đối với chúng ta hôm nay và mai sau.

Hiếu là một phạm trù đạo đức Nho giáo. Tuy nhiên, không phải khi Nho giáo xuất hiện thì con người mới biết hiếu thảo. Mà hiếu thảo được hình thành một cách tự nhiên trong mối quan hệ của con cái đối với ông bà, cha mẹ. Và, với sự xuất hiện của Nho giáo, hiếu đã trở thành một phạm trù luân lý, một chuẩn mực đạo đức mà mỗi con người cần tuân theo. Nếu như với Nho giáo, trong 3 mối quan hệ rường cột của con người (vua tôi, cha con, vợ chồng), quan hệ vua tôi được đặt lên hàng đầu thì với văn hóa Việt Nam, quan hệ cha con được đặt lên hàng đầu, trong đó đạo hiếu được coi là giá trị đạo đức đầu tiên, không thể thiếu của con người, là tiêu chí hàng đầu của đạo làm người. Thật vậy, trong cuộc sống, con người đảm nhận nhiều vị trí khác nhau: Làm con, làm cha, làm mẹ, làm vợ, làm chồng, làm anh, làm em, làm bạn, làm thầy, làm trò, làm dân, làm quan... Mỗi con người sẽ có những vai trò khác nhau, nhưng vai trò mà người nào cũng có đó chính là làm con. Bởi vì, con người bao giờ cũng do “cha sinh, mẹ dưỡng”, làm con rồi mới làm anh, làm chị, làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ, làm thầy, làm trò, làm dân, làm quan… Mỗi con người sinh ra đều được bẩm thụ tinh cha huyết mẹ, được mẹ mang nặng đẻ đau, nuôi dưỡng nên người. Tình mẫu tử, tình phụ tử là tình cảm máu mủ ruột rà, là tình cảm đầu tiên, thiêng liêng, sâu nặng nhất của con người: “Ơn cha nặng lắm ai ơi, Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang” [3, tr.611]. Một con người nếu không có sự hiếu thảo với đấng sinh thành, dưỡng dục mình thì không cần bàn đến đạo lý gì nữa. Vì vậy, đã được sinh ra trong cuộc đời này thì nhất định con người phải nhớ đến công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, sống đúng đạo làm con, phải hiếu thảo với người đã sinh thành ra mình, với cha mẹ mình. Do đó hiếu thảo với cha mẹ được xem là tiêu chí hàng đầu của đạo làm người.

Đạo hiếu được thể hiện trong tục ngữ, ca dao một cách sinh động, sâu sắc qua mối quan hệ hai chiều. Trên cơ sở làm rõ công lao sinh thành, dưỡng dục và tình thương yêu bao la của cha mẹ dành cho con cái, tục ngữ, ca dao đã khẳng định bổn phận, trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ.

1. Công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ đối với con cái

Tục ngữ, ca dao luôn khẳng định công lao sinh thành, dưỡng dục to lớn của cha mẹ đối với con cái. Công lao ấy được tục ngữ, ca dao ví như trời, như biển, như núi cao, như nước trong nguồn: “Công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…” [2, tr.176]. Công ơn của cha mẹ đối với con cái là vô cùng to lớn, vững bền như ngọn núi Thái Sơn; tình thương mà cha mẹ dành cho con là vô hạn, vô tận không bao giờ hết như nước trong nguồn không thể đong đếm được. Công ơn ấy được khái quát qua chín chữ “cù lao”: “Cha sinh mẹ dưỡng, đức cù lao lấy lượng nào đong” [2, tr.164], “Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng ai ơi”[10]. Trong ngôn ngữ Việt Nam, “cù lao” có nghĩa là một khối đất có lẫn đá nhô lên trên mặt biển, còn theo nghĩa Hán Việt thì “cù lao” có nghĩa là sự siêng năng, lao nhọc. Trong Kinh Thi có câu: “Phụ hề sinh ngã, Mẫu hề cúc ngã, Phủ ngã súc ngã, Trưởng ngã dục ngã, Cố ngã phục ngã, Xuất nhập phúc ngã. Dục báo chi đức, Hạo thiên võng cực” [8, tr.302] có nghĩa là: “Cha truyền hơi khí sinh ra ta, Mẹ mang nặng đẻ ta, Vỗ về nuôi nấng ta, Dưỡng ta đến lớn và ấp ủ ta, Đã đi thường quay trở lại để trông chừng ta, Đi ra đi vào bồng ẵm ta vào lòng. Muốn lấy đức báo đền lại, Thì ân nghĩa của cha mẹ to lớn như trời rộng vô cùng” [8, tr.302-303]. Công lao trời biển của cha mẹ đối với con cái được khái quát trong tục ngữ, ca dao qua chín chữ cù lao, bao gồm chín ơn lớn còn gọi là “cù lao chín chữ”: Sinh (sinh thành), Súc (nuôi, cho bú, cho ăn), Cúc (nâng niu), Phủ (âu yếm, vuốt ve), Phúc (che chở, bảo vệ), Cố (săn sóc, trông nom), Dục (dạy dỗ), Phục (uốn nắn), Trưởng (nuôi cho khôn lớn, trưởng thành).

Một là, đức Sinh (sinh thành). Mỗi con người sinh ra đều có cha có mẹ, bẩm thụ tinh cha huyết mẹ, được mẹ mang nặng đẻ đau, nâng niu, bao bọc từ trong trứng nước; vì thế, ơn nghĩa sinh thành ấy vô cùng to lớn: “Cha sinh mẹ dưỡng” [3, tr.37], “Sinh được một con, mất một hòn máu” [3, tr.136].

Hai là, đức Súc (nuôi, cho bú, cho ăn). Cha mẹ là người sinh thành, nuôi dưỡng con cái, cho con bú mớm, chăm chút từng bữa ăn, giấc ngủ để con lớn lên từng ngày: “Con ấp vú mẹ” [5, tr.244], “Nhớ ơn chín chữ cù lao, Ba năm nhũ bộ biết bao nhiêu tình” [10]. Dù khó khăn, vất vả nhưng cha mẹ vẫn hết lòng yêu thương, chăm bẵm, dành những điều tốt nhất có thể cho con, để con được no đủ với mong muốn con hay ăn, chóng lớn, khỏe mạnh: “Cảm thương từ mẫu muôn phần, miệng nhai cơm búng, lưỡi lần cá xương” [2, tr.161].

Ba là, đức Cúc (nâng niu). Đối với cha mẹ, con cái là tài sản vô cùng quý giá, thiêng liêng, không gì sánh được. Chính vì vậy, cha mẹ luôn hết lòng yêu thương con cái, nâng niu con khi còn thơ dại, luôn sẵn sàng hy sinh để dành những điều tốt nhất cho con: “Chỗ ướt mẹ nằm, ráo xê con lại” [5, tr.96].

Bốn là, đức Phủ (âu yếm, vuốt ve). Tình yêu thương cha mẹ dành cho con được thể hiện qua từng hành động, lời nói. Cha mẹ chăm sóc con từng bữa ăn giấc ngủ với sự âu yếm, vỗ về, với những câu hát ru theo con vào giấc ngủ. Mỗi câu hát ngọt ngào tha thiết gói ghém biết bao tình yêu thương của mẹ với những lo toan, vất vả cuộc sống: “Miệng ru con, mắt đỏ hai hàng, Nuôi con càng lớn, mẹ càng thêm lo” [11], “…Ru con con ngủ cho say, Mẹ còn vất vả chân tay ngoài đồng. Ru con con ngủ cho nồng, Mẹ còn nhổ mạ trả công cho người” [11].

Năm là, đức Phúc (che chở, bảo vệ). Cha mẹ là người bao bọc, che chở, bảo vệ cho con từ khi con mới sinh ra. Cây măng khi mới nhú được các tàu bẹ bao bọc, tránh mưa, nắng, gió bão để rồi cứng cáp lớn lên, có thể đứng tự lập giữa trời. Con người cũng vậy, khi sinh ra cũng cần sự che chở, bảo vệ của cha mẹ để rồi cứng cáp, đủ lông, đủ cánh, có thể đương đầu trước cuộc sống, trước phong ba, bão táp cuộc đời: “Con có mẹ như măng ấp bẹ” [3, tr.52], “Con có cha như nhà có nóc” [3, tr.52].

Sáu là, đức Cố (săn sóc, trông nom). Để nuôi con khôn lớn, cha mẹ phải trải qua bao vất vả, nhọc nhằn. Khi nhỏ cho bú, cho ăn, săn sóc từng bữa ăn, giấc ngủ, trông nom con từ lúc biết lẫy, biết bò rồi đến những bước đi chập chững đầu tiên. Sự hy sinh, công ơn mà cha mẹ dành cho con không thể nào đong đếm, không thể nói hết thành lời: “Đói lòng con héo hon cha mẹ” [5, tr.93], “Con biết ngồi, mẹ rời tay” [5, tr.96-97], “Con lên ba, mẹ sa xương sườn” [5, tr.97], “Con đâu cha mẹ đấy” [5, tr.244].

Bảy là, đức Dục (dạy dỗ). Tục ngữ, ca dao đặc biệt đề cao vai trò của giáo dục gia đình đối với sự phát triển của con người, cho rằng bản thân những người làm cha làm mẹ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển tốt hay xấu của con cái. Cha mẹ không những có vai trò sinh thành mà còn có trách nhiệm nuôi dưỡng, chỉ bảo, dạy dỗ con nên người: “Đẻ con chẳng dạy, chẳng răn, Thà rằng nuôi lợn mà ăn lấy lòng” [6, tr.343], “Mẹ dạy con thì khéo, bố dạy con thì khôn” [6, tr.339].

Tám là, đức Phục (uốn nắn). Để con khôn lớn thành người, cha mẹ không những nuôi dưỡng mà còn phải dạy dỗ, uốn nắn. Cha mẹ có thương con, nghiêm khắc với con thì mới giúp con thành người: “Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi” [2, tr.211], “Uốn cây uốn thủa còn non, Dạy con từ thủa con còn ngây thơ” [5, tr.93].

Chín là, đức Trưởng (nuôi cho khôn lớn, trưởng thành). Cha mẹ một đời dưỡng dục, lo cho con khôn lớn, trưởng thành. Đến già, cha mẹ vẫn luôn canh cánh, dành tâm chí hướng về con, lo cho con, những mong con có cuộc sống bình an, mọi điều tốt đẹp. Trong mắt cha mẹ, dù con cái có lớn khôn, trưởng thành thì vẫn cần sự chỉ bảo của cha mẹ. Tình thương yêu, sự quan tâm mà cha mẹ dành cho con chẳng lúc nào vơi cạn. Đến già cha mẹ vẫn không hết lo lắng cho con, nghĩ về con: “Sinh con ai chẳng vun trồng cho con” [5, tr.93], “Mẹ già trăm tuổi tóc sương, Lo con tám chục năm trường chưa yên!” [10], “Công cha nghĩa mẹ cao vời, Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta” [10].

2. Bổn phận, trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ

Công lao sinh thành dưỡng dục, tình yêu thương bao la, vô bờ bến không gì đong đếm được mà cha mẹ dành cho con thể hiện qua chín chữ cù lao, được phản ánh trong tục ngữ, ca dao thật sinh động, sâu sắc. Nó nhắc nhở những người làm con phải luôn thấu hiểu, khắc ghi và suốt đời đền đáp công ơn cha mẹ bằng tất cả tấm lòng thành kính của mình. Trong văn hóa Việt Nam nói chung, trong tục ngữ, ca dao nói riêng, chữ Hiếu luôn được đặt lên hàng đầu: “Làm con nết đủ trăm đường, Trước tiên điều hiếu đạo thường xưa nay” [4, tr.55], “Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên, Chữ rằng mộc bổn thủy nguyên, Làm người phải biết tổ tiên ông bà” [4, tr.55] (Con người có trăm đức nhưng đức hiếu là hàng đầu. Đó là đức tính cơ bản, đầu tiên cần có của con người). Phan Kế Bình trong cuốn Việt Nam phong tục đã viết: “Ta đọc sách thánh hiền, lấy sự hiếu với cha mẹ là mối luân thường rất lớn, làm đầu trong trăm nết hay của người” [1, tr.21]. Bổn phận hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ được thể hiện trong tục ngữ, ca dao qua một số nội dung cơ bản sau:

Một là, phận làm con phải thấu hiểu, biết ơn công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ.

Trên cơ sở khẳng định vai trò, trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, cha ông ta cho rằng phận làm con phải thấu hiểu, biết ơn công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Điều đó luôn phải được khắc ghi trong tâm và được biểu hiện qua từng hành động cụ thể: “Bảo vâng gọi dạ con ơi, vâng lời sau trước con thời chớ quên. Công cha nghĩa mẹ ai đền, vào thưa ra gửi mới nên con người” [2, tr.184], “…Công cha đức mẹ cao dày, Cưu mang trứng nước những ngày ngây thơ, Nuôi con khó nhọc đến giờ, trưởng thành con phải biết thờ hai thân. Thức khuya dậy sớm chuyên cần, Quạt nồng ấp lạnh giữ phần đạo con” [6, tr.345]. Và, chỉ khi nào làm cha, làm mẹ, con cái mới có thể hiểu hết được tình yêu, sự vất vả, hy sinh của cha mẹ đối với con cái: “Có nuôi con mới hiểu lòng cha mẹ” [3, tr.50], “Lên non mới biết non cao, nuôi con mới biết công lao mẫu từ” [6, tr.342].

Hai là, phận làm con phải có trách nhiệm phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ.

Từ việc thấu hiểu, biết ơn công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, phận làm con phải biểu hiện tấm lòng của mình qua những hành động cụ thể, phải có trách nhiệm phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ. Tục ngữ có câu: “Bé thì nhờ mẹ nhờ cha, lớn lên nhờ vợ, lúc già nhờ con” [3, tr.29]. Lúc còn nhỏ, cha mẹ chính là chỗ dựa của con cái. Cha mẹ nuôi nấng, dạy bảo để con khôn lớn trưởng thành, cha mẹ dành cả tâm sức cuộc đời để vun đắp cho cuộc sống, tương lai, hạnh phúc của con, dành cho con những điều tốt đẹp nhất. Đến khi cha mẹ về già thì con cái lại trở thành chỗ dựa cho cha mẹ. Con cái có trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng, báo đáp công ơn cha mẹ. Đó là quy luật của cuộc sống, là đạo lý ở đời. Trách nhiệm phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ của con cái phải được thực hiện với tất cả tấm lòng yêu thương, thành kính. Đúng như Khổng Tử từng nói về sự cần thiết phải Thành và Kính trong việc thực hành chữ Hiếu: “Ngày nay, người ta gọi nuôi nấng, săn sóc cha mẹ là thờ cha mẹ nhưng đối với chó và ngựa người ta cũng phải nuôi nấng chăm sóc nó. Nếu như đối với cha mẹ mà không kính thì sự săn sóc đối với cha mẹ có khác gì đối với việc săn sóc nuôi nấng chó ngựa?” [9, tr.29-30]. Mỗi người có điều kiện khác nhau, vì thế sự báo đáp của con cái đối với cha mẹ không quan trọng ở sự sang hèn, giàu nghèo mà quan trọng nhất là sự thành kính và tấm lòng yêu thương thực sự. Dù cho hoàn cảnh khó khăn, chỉ cần con cái có tấm lòng thành kính, luôn cố gắng dành cho cha mẹ những điều kiện tốt nhất mà mình có thể thì đó cũng chính là sự thể hiện tấm lòng hiếu thảo thực sự đối với cha mẹ: “Đói lòng ăn hột chà là, Dành cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng” [3, tr.368], “Khó nghèo củi núi sau non, Nuôi cha, nuôi mẹ cho tròn nghĩa con” [3, tr.484], “Ơn cha nghĩa mẹ nặng trìu, ra công báo đáp ít nhiều phận con” [2, tr.197].

Ba là, phận làm con phải cố gắng tu dưỡng, học hành để làm rạng rỡ gia đình, dòng họ.

Việc báo hiếu của con cái đối với cha mẹ không chỉ đơn thuần ở mặt vật chất, không chỉ dừng lại ở việc phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ mà phận làm con còn phải biết quan tâm đến cha mẹ về mặt tinh thần, phải cố gắng tu dưỡng, học hành để làm rạng rỡ gia đình, dòng họ.

Con cái chính là niềm tự hào, là tài sản lớn nhất của cha mẹ. Bậc làm cha làm mẹ, ai cũng luôn mong con khôn lớn, trưởng thành, học hành giỏi giang, có cuộc sống hạnh phúc, có địa vị trong xã hội, làm rạng danh gia đình và dòng họ. Sự thành công của con cái chính là món quà tinh thần vô giá, là một trong những cách thể hiện sự đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ. Chính vì vậy, phận làm con phải ra sức học hành, tu dưỡng, lập thân lập nghiệp, không phiền lụy đến cha mẹ, để cha mẹ được vui lòng, để xứng với sự hy sinh vất vả của cha mẹ: “Con cái khôn ngoan vẻ vang cha mẹ” [3, tr.52], “Con hơn cha là nhà có phúc”[3, tr.53], “Mai ngày treo biển đề tên, Khoa khôi lại gặp được thì thánh minh. Lộc trời tước nước hiển vinh, Báo đền đôi đức dưỡng sinh bất chầy” [7, tr.145].

Bốn là, phận làm con phải thấy hạnh phúc khi mỗi ngày còn có cha mẹ và hết lòng phụng thờ khi cha mẹ khuất bóng.

Có lẽ, biểu hiện cao nhất, đẹp nhất của chữ hiếu đó là phải xuất phát từ trong tâm, từ tình yêu thương thực sự của con cái đối với cha mẹ, không bị ràng buộc bởi trách nhiệm hay dư luận xã hội nào. Điều đó được thể hiện ở phận làm con phải thấy hạnh phúc khi mỗi ngày còn có cha mẹ và hết lòng phụng thờ khi cha mẹ khuất bóng. Cuộc đời vô cùng ngắn ngủi, khoảng thời gian mỗi con người được sống bên cạnh những người mình thương yêu, được sống bên cha mẹ không nhiều. Lúc nhỏ ở với cha mẹ, lúc lớn khôn trưởng thành thì lập gia đình, đi làm ăn, không phải ai cũng được ở gần cha mẹ để có điều kiện thường xuyên thăm nom cha mẹ. Công việc, sự bận rộn trong cuộc sống hàng ngày với bao khó khăn, bộn bề khiến mỗi con người mải miết xoáy vào vòng xoay cuộc sống mà không có nhiều thời gian cho cha mẹ. Đến khi chúng ta có tuổi, công việc và cuộc sống ổn định, vững vàng, có nhiều thời gian và điều điện để chăm sóc cha mẹ thì cha mẹ lại không còn. Đó vừa là một nghịch lý, vừa là quy luật của cuộc sống. Chính bởi cuộc sống ngắn ngủi, nay còn mai mất, nên phận làm con phải biết trân trọng những giây phút được ở bên cha mẹ, thấy hạnh phúc khi mỗi ngày còn có cha mẹ, thấy hạnh phúc vì còn được chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ và phải hết lòng phụng thờ khi cha mẹ khuất bóng: “Tu đâu cho bằng tu nhà, thờ cha kính mẹ mới là chân tu” [2, tr.207], “Thờ cha mẹ ở hết lòng, ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường” [2, tr.164], “Khôn ngoan nhờ ấm cha ông, làm nên phải đoái tổ tông phụng thờ. Đạo làm con chớ hững hờ, phải đem hiếu kính mà thờ từ nghiêm” [2, tr.186]. Nếu trong tâm con cái luôn nghĩ đến cha mẹ, cảm thấy hạnh phúc khi mỗi ngày còn có cha mẹ thì đó chính là ngọn đèn soi đường, chỉ lối cho con cái tự biết phải làm gì để báo hiếu cha mẹ. Cái tâm đó sẽ như nguồn năng lượng diệu kỳ tạo cho con người sức mạnh để cố gắng, vươn lên trong cuộc sống, làm rạng danh cha mẹ, đền đáp công ơn cha mẹ. Tấm lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ không những được thể hiện khi cha mẹ còn sống mà còn được thể hiện khi cha mẹ khuất bóng. Do đó, khi cha mẹ còn sống thì phận làm con phải phụng dưỡng, chăm sóc và khi cha mẹ khuất bóng thì phải hết lòng phụng thờ để yên lòng cha mẹ nơi chín suối. Phận làm con phải trước sau vẹn toàn, một đời thành kính, phụng thờ cha mẹ.

3. Ý nghĩa của đạo hiếu trong tục ngữ, ca dao Việt Nam với việc giáo dục đạo hiếu hiện nay

Đạo hiếu trong tục ngữ, ca dao có nội dung sâu sắc, có ý nghĩa rất lớn với việc giáo dục đạo hiếu hiện nay. Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng giao lưu và hội nhập quốc tế. Điều đó mở ra cho chúng ta những cơ hội và cả những thách thức to lớn đối với sự phát triển. Một trong những thách thức đòi hỏi cần phải giải quyết đó là sự xuống cấp về đạo đức xã hội. Nhiều nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, trong đó có đạo hiếu đang có biểu hiện bị lãng quên. Thực tế cho thấy, hiện nay, có không ít trường hợp xảy ra, như cha mẹ thiếu trách nhiệm, bỏ rơi con cái, hành hạ con cái, con cái quay lưng lại với cha mẹ, bạc đãi, bất hiếu với cha mẹ,… gây bức xúc trong dư luận. Điều đó đặt ra cho chúng ta yêu cầu trở về và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống để tìm điểm tựa, định hướng để khắc phục, giải quyết những vấn đề đang đặt ra, tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững.

Tục ngữ, ca dao Việt Nam là viên ngọc quý, kết tinh trí tuệ và tâm hồn dân tộc qua nhiều thế hệ, được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân. Nó được sử dụng phổ biến trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, bởi trong đó chứa đựng những bài học quý báu, những triết lý sống vô cùng sâu sắc của cha ông ta. Và, một trong những nội dung cơ bản, xuyên suốt trong tục ngữ, ca dao Việt Nam chính là triết lý đạo đức, đạo làm người. Với cách nói giản dị cùng sự trau chuốt về nội dung và hình thức, tục ngữ, ca dao có sức cảm hóa, lay động lòng người rất lớn, thể hiện được chức năng giáo dục một cách hiệu quả. Chính vì vậy, việc kế thừa, phát huy những giá trị của tục ngữ, ca dao trong giáo dục đạo làm người, cụ thể là đạo hiếu trong bối cảnh hiện nay là việc làm có ý nghĩa.

Đạo hiếu là đạo làm người trong mối quan hệ của con cái đối với cha mẹ. Đây là quan hệ huyết thống thiêng liêng đối với mỗi con người. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, câu hỏi đặt ra là: Con người phải sống thế nào cho phải đạo? Chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi này thông qua những đúc kết của cha ông ta được gửi gắm trong tục ngữ, ca dao. Những đúc kết đó chính là triết lý sống, đạo lý làm người của dân tộc ta, có ý nghĩa giáo dục rất lớn đối với chúng ta hôm nay và mai sau.

Nội dung giáo dục đạo hiếu qua tục ngữ, ca dao được thể hiện một cách biện chứng qua mối quan hệ hai chiều, đó là trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái và bổn phận, trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ.

Thứ nhất, trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái được thể hiện trong tục ngữ, ca dao qua sự khẳng định công lao sinh thành, dưỡng dục, tình yêu thương bao la của cha mẹ dành cho con cái: “Cha sinh mẹ dưỡng, đức cù lao lấy lượng nào đong” [2, tr.164]. Công lao trời biển của cha mẹ đối với con cái được khái quát trong tục ngữ, ca dao bao gồm chín ơn lớn, còn gọi là “cù lao chín chữ”. Đó vừa là sự khẳng định, vừa là sự nhắc nhở những người làm cha mẹ phải làm tròn trách nhiệm của mình đối với con cái. Đã sinh ra con phải nuôi con khôn lớn nên người bằng tất cả tình yêu thương của mình. Trong xã hội hiện nay, chúng ta thấy có không ít người do không làm chủ được chính mình, không có trách nhiệm với những điều mình đã làm nên đã không làm tròn trách nhiệm làm cha mẹ của mình đối với con cái, gây nên không ít cảnh thương tâm, để lại sự tổn thương về tinh thần, thiếu hụt về tình cảm cho con cái. Do thiếu tình thương yêu, dạy dỗ của cha mẹ nên nhiều đứa trẻ khi lớn lên trở thành những con người vô cảm, sa vào các tệ nạn xã hội, gây những hậu quả đáng tiếc cho bản thân, gia đình và xã hội. Chính vì vậy, việc giáo dục cho con người về bổn phận làm cha mẹ là việc làm cần thiết, để mỗi người đang và sẽ làm cha mẹ biết mình cần phải chuẩn bị và làm những gì để làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình, xây dựng hạnh phúc cho chính mình, cho gia đình mình, góp phần vào sự phát triển xã hội.

Thứ hai, giáo dục bổn phận, trách nhiệm của con cái đối với với cha mẹ.

Trên cơ sở khẳng định vai trò, trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, cha ông ta cho rằng, phận làm con phải hiếu thảo với cha mẹ. Bổn phận hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ được thể hiện ở chỗ, phận làm con phải thấu hiểu, biết ơn công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ; có trách nhiệm phụng dưỡng, chăm sóc cha mẹ; phải cố gắng tu dưỡng, học hành để làm rạng rỡ gia đình, dòng họ; thấy hạnh phúc khi mỗi ngày còn có cha mẹ và hết lòng phụng thờ khi cha mẹ khuất bóng. Sự hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ cũng chính là sự thể hiện tình yêu thương và trân trọng chính mình. Thực tế hiện nay cho thấy, có không ít những người làm con quay lưng lại với cha mẹ, bạc đãi, bất hiếu với cha mẹ,… gây ra không ít hệ lụy đáng tiếc cho bản thân, cho gia đình và xã hội. Do đó, việc giáo dục con người biết trân trọng chính bản thân mình, từ đó thấu hiểu được công ơn sinh thành, dưỡng dục, tình yêu thương vô bờ bến mà cha mẹ đã dành cho mình, biết hiếu thảo đền đáp công ơn cha mẹ bằng tất cả tấm lòng thành kính của mình là điều cần thiết. Và, tục ngữ, ca dao với sự đúc kết cô đọng, sâu sắc chính là công cụ giáo dục hữu ích giúp chúng ta thực hiện được điều đó.

Đạo hiếu trong tục ngữ, ca dao thể hiện tư tưởng, nhân văn sâu sắc của cha ông ta, biểu hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn tốt đẹp của dân tộc. Đạo hiếu ở đây được thể hiện qua mối quan hệ hai chiều giữa cha mẹ với con cái mà ở đó, mỗi người đều phải làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình: Cha từ, con hiếu. Trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, chữ “hiếu” được đặt lên hàng đầu. Cha mẹ có trách nhiệm sinh thành, dưỡng dục, yêu thương con cái; con cái phải biết yêu thương, kính trọng, đền đáp công ơn cha mẹ. Tình cảm giữa cha mẹ và con cái là tình cảm thiêng liêng, có giá trị vĩnh hằng, vượt qua mọi không gian, thời gian, trở thành lẽ sống của mỗi con người ở mọi thời đại. Đạo hiếu trong tục ngữ, ca dao chính là sự đúc kết triết lý sống, đạo lý làm người của dân tộc ta, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với mỗi chúng ta hôm nay và mai sau.

Tài liệu tham khảo

[1] Phan Kế Bính (1995), Việt Nam phong tục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Nguyễn Nghĩa Dân (2000), Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb Thanh niên.

[3] Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (1999), Tuyển tập Văn học dân gian, t.4, quyển 1: Tục ngữ - Ca dao, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

[4] Huệ Khải (2010), Tam giáo Việt Nam, Tiền đề tư tưởng mở Đạo Cao Đài, Nxb Tôn giáo.

[5] Phạm Việt Long (2010), Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

[6] Vũ Ngọc Phan (2010), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội.

[7] Nguyễn Thị Thọ (2017), Bản thể luận xã hội về đạo hiếu ở Việt Nam hiện nay, Nxb Khoa học xã hội.

[8] Khổng Tử (Tạ Quang Phát dịch)(2007), Kinh Thi, Nxb Văn học.

[9] Nguyễn Hữu Vui (chủ biên) (2007), Lịch sử triết học, NXb Chính trị Quốc gia.

[10] http://www.thegioiphatgiao.vn/dactrung/chin-chu-cu-lao, đăng nhập ngày 12/5/2018.

[11] https://cadaotucnguvietnam.wordpress.com/ 2011/07/23/ca-dao-hat-ru/, đăng nhập 16/3/2018.

  • Điều khoản sử dụng
  • Chính sách bảo mật
  • Cookies
  • RSS
  • Điều khoản sử dụng
  • Chính sách bảo mật
  • Cookies
  • RSS

Trang thông tin tổng hợp melodious

Website melodious là blog chia sẻ vui về đời sống ở nhiều chủ đề khác nhau giúp cho mọi người dễ dàng cập nhật kiến thức. Đặc biệt có tiêu điểm quan trọng cho các bạn trẻ hiện nay.

© 2026 - melodious

Kết nối với melodious

vntre
vntre
vntre
vntre
vntre
Sun win 789club Sun win 789club
  • Công Nghệ
  • Ẩm Thực
  • Kinh Nghiệm Sống
  • Du Lịch
  • Hình Ảnh Đẹp
  • Làm Đẹp
  • Phòng Thủy
  • Xe Đẹp
  • Du Học