Trong hình học, tam giác đều là tam giác có ba cạnh bằng nhau và ba góc bằng nhau, mỗi góc bằng 60°. Nó là một đa giác đều với số cạnh bằng 3.
Giả sử độ dài ba cạnh tam giác đều bằng a {displaystyle a,!} , dùng định lý Pytago chứng minh được:
Với một điểm P bất kỳ trong mặt phẳng tam giác, khoảng cách từ nó đến các đỉnh A, B, và C lần lượt là p, q, và t ta có:[1]
3 ( p 4 + q 4 + t 4 + a 4 ) = ( p 2 + q 2 + t 2 + a 2 ) 2 {displaystyle 3(p^{4}+q^{4}+t^{4}+a^{4})=(p^{2}+q^{2}+t^{2}+a^{2})^{2}} .Với một điểm P bất kỳ nằm bên trong tam giác, khoảng cách từ nó đến các cạnh tam giác là d, e, và f, thì d+e+f = chiều cao của tam giác, không phụ thuộc vào vị trí P.[2]
Với điểm P nằm trên đường tròn ngoại tiếp, các khoảng cách từ nó đến các đỉnh của tam giác là p, q, và t, thì[1]
4 ( p 2 + q 2 + t 2 ) = 5 a 2 {displaystyle 4(p^{2}+q^{2}+t^{2})=5a^{2}}và
16 ( p 4 + q 4 + t 4 ) = 11 a 4 {displaystyle 16(p^{4}+q^{4}+t^{4})=11a^{4}} .Nếu P nằm trên cung nhỏ BC của đường tròn ngoại tiếp, với khoảng cách đến các đỉnh A, B, và C lần lượt là p, q, và t, ta có:[1]
p = q + t {displaystyle p=q+t}và
q 2 + q t + t 2 = a 2 ; {displaystyle q^{2}+qt+t^{2}=a^{2};}hơn nữa nếu D là giao điểm của BC và PA, DA có độ dài z và PD có độ dài y, thì[3]
z = t 2 + t q + q 2 t + q , {displaystyle z={frac {t^{2}+tq+q^{2}}{t+q}},}và cũng bằng t 3 − q 3 t 2 − q 2 {displaystyle {tfrac {t^{3}-q^{3}}{t^{2}-q^{2}}}} nếu t ≠ q; và
1 q + 1 t = 1 y . {displaystyle {frac {1}{q}}+{frac {1}{t}}={frac {1}{y}}.}
Link nội dung: https://chodichvu.vn/duong-cao-tam-giac-deu-a78805.html