Trang thông tin tổng hợp
Trang thông tin tổng hợp
  • Công Nghệ
  • Ẩm Thực
  • Kinh Nghiệm Sống
  • Du Lịch
  • Hình Ảnh Đẹp
  • Làm Đẹp
  • Phòng Thủy
  • Xe Đẹp
  • Du Học
Công Nghệ Ẩm Thực Kinh Nghiệm Sống Du Lịch Hình Ảnh Đẹp Làm Đẹp Phòng Thủy Xe Đẹp Du Học
  1. Trang chủ
  2. tiếng việt
Mục Lục

Just life

avatar
Katan
20:04 06/11/2025
Theo dõi trên

Mục Lục

Bữa ấy Mai Anh Tuấn nói chuyện về Tự Lực Văn Đoàn, tập trung vào sự kiến tạo tình yêu kiểu mới qua những tiểu thuyết và truyện dài/ngắn của Tự Lực Văn Đoàn. Dễ hiểu và giản dị, mình không ghi chép, và bây giờ chẳng thể tóm tắt lại. Mình không hâm mộ những câu chuyện tình ấy, nhưng chắc lúc nào cũng phải tìm hiểu lại để phác hoạ được những nét quan trọng trong lịch sử tình yêu ở Việt Nam. Tự Lực Văn Đoàn đọng lại với mình về tình yêu là thơ Xuân Diệu và chuyện tình của ông, chứ không phải thứ tự do tình yêu mà các bậc trí thức nam nhi kiến tạo cho nữ giới.

“Thây kệ thiên đường và địa ngục” trích từ Tình trai, một bài thơ nổi tiếng của Xuân Diệu mà Ngô Thanh đưa cho học sinh để gợi cảm hứng bàn về tình yêu.

TÌNH TRAI

Tôi nhớ Rimbaud với VerlaineHai chàng thi sĩ choáng hơi menSay thơ xa lạ, mê tình bạnKhinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen

Những bước song song xéo dặm trườngĐôi hồn tươi đậm ngát hoa hươngHọ đi, tay yếu trong tay mạnhNghe hát ân tình giữa gió sương

Kể chi truyện trước với người sauQuên ngó môi son với áo mầuThây kệ thiên đường và địa ngụcKhông hề mặc cả, họ yêu nhau!

(Thơ thơ in lần thứ hai 193…)

Mình cũng đã băn khoăn, muốn để một câu thơ của Huy Cận làm tiêu đề cho bài ghi chép này. “Hai ta hạt chín chung mùa nắng trong.” Người phê bình ham đánh giá các nhân vật, như Cao Việt Dũng, có lần xếp loại, cho Huy Cận ở bậc cao hơn Xuân Diệu về mặt thơ hay. Thơ Huy Cận đúng là đẹp hơn, nhưng nó là một thứ thẩm mỹ, hồn thơ rất khác, mang hơi hướng phương Đông. Mình còn nhớ bài “Đẹp xưa” Huy Cận đề tặng Tô Ngọc Vân.

Ngập ngừng mép núi quanh co,Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang…Vi vu gió hút nẻo vàng;Một trời thu rộng mấy hàng mây nao.Dừng cương nghỉ ngựa non caoDặm xa lữ thứ kẻ nào héo hon…Đi rồi, khuất ngựa sau non;Nhỏ thưa tràng đạc, tiếng còn tịch liêu…Trơ vơ buồn lọt quán chiều,Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người.Nguồn:1. Huy Cận, Lửa thiêng, NXB Đời nay, 19402. Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 2007

Xuân Diệu cũng là người giới thiệu Huy Cận vào làng thơ, giai thoại kể rằng: “Khi Huy Cận vừa làm xong bài thơ Tràng giang, ông gửi cho Xuân Diệu xem trước. Xuân Diệu vội vàng chép tay, rồi gửi theo đường bưu điện cho Thế Lữ. Đọc xong, Thế Lữ khen hay và hỏi: “Huy Cận là tay nào mà làm thơ hay thế!”. Xuân Diệu bảo: “Huy Cận là bạn tôi”. Thế Lữ lại hỏi: “Là bạn sao không đưa thẳng cho tôi mà lại gửi thư?”. Xuân Diệu đáp: “Tôi muốn gửi thế để kiểm tra xem thử thơ có hay thật không?”. Mấy ngày sau, Huy Cận ra Hà Nội, Xuân Diệu đưa ông đến báo Ngày nay giới thiệu với Ban biên tập. Đó là lần đầu tiên Huy Cận tiếp xúc với giới văn chương, báo chí. Từ đó, họ rất quý ông, đăng thơ ông đều đặn trên báo Ngày Nay. Tuần ấy, báo đăng bài Tràng giang của Huy Cận. Ngay ngày hôm sau, mới 6 giờ sáng, Lưu Trọng Lư đã đến đập cửa Huy Cận tại số nhà 40 Hàng Than (lúc ấy Lưu Trọng Lư ở dưới nhà, Huy Cận và Xuân Diệu ở trên gác), mà rằng: “Trời, Tràng giang hay quá Cận ơi! Hôm nay cụ Ngô Tất Tố hỏi tôi: “Huy Cận là thằng cha nào mà làm bài thơ hay thế? Bài thơ này hồn thơ Đường mà hay hơn thơ Đường”…mình phải khao cậu mới được. Thế là hai nhà thơ đến hiệu phở Nghi Xuân (ở Hàng Quạt) nổi tiếng. Lưu Trọng Lư chiêu đãi Huy Cận nhưng lại quên mang tiền vì ông nổi tiếng là người lơ đãng. Rốt cuộc, Huy Cận lại mời phở Lưu Trọng Lư.” (Nhà thơ Huy Cận và những giai thoại)

“Hai ta hạt chín chung mùa nắng trong” trích từ một bài thơ mô tả cuộc sống chung của Diệu và Cận khi Cận đã lấy vợ (Huy Cận từng có thời kỳ là em rể của Xuân Diệu khi lấy Ngô Xuân Như, em gái Xuân Diệu làm vợ) ở 24 Cột Cờ. “Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai yêu thì đến, hững hờ thì qua.” Khi đường này đổi tên thành Điện Biên Phủ, họ lại điều chỉnh hai câu thơ trên thành “Nhà tôi 24 Điện Biên/ Ai yêu thì đến, ai phiền thì thôi.”

Đêm đêm trên gác chong đènCận ngồi cặm cụi viết dòng thơ bayDưới nhà bút chẳng ngừng tayBên bàn Diệu cũng miệt mài trang thơBạn từ lúc tuổi còn thơHai ta hạt chín chung mùa nắng trongÁnh đèn trên gác, dưới phòngCũng là đôi kén nằm trong kén trờiSáng ra gõ cửa: “Diệu ơi,Nghe dùm thơ viết đêm rồi xem sao”.Diệu còn ngái ngủ: “Đọc mau!Nghe rồi, xem lại từng câu mới tường”.Dưới nhà trên gác thông thươngDòng thơ không dứt giữa luồng tháng năm…

Ở bài “Nửa thế kỷ tình bạn” in trong tập “Xuân Diệu, con người và tác phẩm” xuất bản tại Hà Nội năm 1987, Huy Cận kể: “Tựu trường năm 1936, chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên ở trường tú tài Khải Định, Huế. Anh Diệu học năm thứ ba, tôi vào học năm thứ nhất. Hai đứa đọc thơ cho nhau nghe, và ‘đồng thanh tương ứng’, kết bạn với nhau gần như tức khắc… Tựu trường 1937, anh Diệu ra Hà Nội học trường Luật và viết báo Ngày nay, tôi học năm thứ hai ban tú tài… Anh Diệu và tôi viết thư cho nhau hàng tuần… Năm 1938, tôi ra sống với Diệu ở chân đê Yên Phụ. Ở đó Diệu viết ‘Truyện cái giường’, một số bài thơ, còn tôi thì viết ‘Buồn đêm mưa’, ‘Trông lên’, ‘Đi giữa đường thơm’ và mấy bài khác… Tựu trường năm 1939,… hai chúng tôi cùng sống ở gác 40 phố Hàng Than, Hà Nội… Cuối năm 1940, Diệu đi làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho… Chúng tôi tạm sống xa nhau, buồn đứt ruột, hàng tuần viết thư cho nhau, có tuần hai, ba lá thư… Hè 1942, tôi đậu kỹ sư canh nông và cuối năm bắt đầu đi làm ở Sở nghiên cứu tầm tang. Diệu điện hỏi tôi: ‘Diệu từ chức được chưa?’, tôi điện trả lời: ‘Từ chức ngay! Về ngay Hà Nội!’. Chúng tôi sống trên gác Hàng Bông (số nhà 61), tiếp tục làm thơ.” Vậy là Xuân Diệu đã đi làm xa, làm “tham tá thương chánh ở Mỹ Tho,” để nuôi Huy Cận ăn học.

Xuân Diệu và Huy Cận gắn bó với nhau đến nỗi nhà xuất bản họ lập ra hồi đó cũng mang tên là Huy-Xuân. Về thơ Huy Cân viết cho Xuân Diệu, người ta còn nhắc đến những bài như “Ngủ chung,” “Vạn lý tình,” “Mai sau.” Mấy đoạn này hay, cũng chẳng biết từ bài nào, mình xin chép lại từ những bài báo đã trích.

“Có lần, Xuân Diệu gửi một vài vải may quần áo cho Huy Cận, lúc đó đang học Cao đẳng Nông lâm. Huy Cận viết:Mở thư một sáng lạnh lùng.Hai chiều vải dệt tao phùng Huy - Xuân.Dọc ngang tơ chỉ sát gần.Đi về mấy dạo hai thân một hồn…” (Nhà thơ Huy Cận và những giai thoại)

Hai đứa rồi ra nghĩ cũng kỳ,Thương nhau hơn ruột thịt dường ni,Mà đàn mỗi đứa riêng âm sắc.Cuộc sống muôn màu lặp lại chi! (Nhà thơ Huy Cận và những giai thoại)

Nhưng nói đến thơ tình và tình yêu, phải kể Xuân Diệu chứ không phải Huy Cận. Huy Cận lấy vợ và sinh con. Xuân Diệu cũng lấy vợ, đám cưới với Bạch Diệp vào năm 1958, nhưng cuộc hôn nhân chỉ kéo dài 6 tháng. Giai thoại gắn bài thơ “Dạ lan hương” với Bạch Diệp (nữ đạo diễn điện ảnh đầu tiên của Việt Nam). Mình thích bài Dạ lan hương này, với bài Quả lựu.

Nửa mưa nửa nắng, là emNắng thưa mưa nhặt, vườn thêm bùi ngùiLòng anh: quả lựu chín mùi,Lắm khi vừa vỡ vừa cười - đó em.1961

Năm 1958, khi Xuân Diệu lấy vợ, cũng là năm Xuân Diệu gặp Hoàng Cát. Hồi nhỏ, mình đọc được bài “Em đi” Xuân Diệu đề tặng Hoàng Cát trên một số báo, không biết đó là số báo năm nào, nhưng mình đã lấy ra bọc vở. Bài “Biển” theo Hoàng Cát kể lại cũng là để tặng Hoàng Cát.

Em đi, để tấm lòng son mãi…Như ánh đèn chong, như ngôi saoEm đi, một tấm lòng lưu lạiAnh nhớ thương em, lệ muốn trào.

Ôi Cát! Hôm vừa tiễn ở gaChưa chi ta đã phải chia xa!Nụ cười em nở, tay em vẫy,Ôi mặt em thương như đóa hoa!

Em hỡi! đường kia vướng những gìMà anh mang nặng bước em đi!Em ơi ! anh thấy như anh đứngÔm mãi chân em chẳng chịu lìa.

Nhưng bóng em đi khuất khuất rồi,Đứt lìa khúc ruột của anh thôiTình ta như mối dây muôn dặmBuộc mãi đôi chân dẫu cách rời.

Em hẹn sau đây sẽ trở vềSống cùng anh lại, những say mê…Áo chăn em gửi cho anh giữ,Xin gửi cùng em cả hẹn thề!

Một tấm lòng em sâu biết baoĐể anh thương mãi, biết làm saoEm đi xa cách, em ơi Cát!Em chớ buồn, nghe! Anh nhớ, Yêu!

Đêm 11/7/1965 - 23 giờ 30

(Báo Nhân Dân số têt Kỷ Tỵ 1989)

Giai thoại kể: “Cho tới trước Tết Kỷ Tỵ (1989) vợ Hoàng Cát ốm nặng, phải nằm bệnh viện, mà nhà anh nghèo quá, chẳng có tiền thuốc thang; một người bạn văn của Hoàng Cát ở báo Nhân dân đến thăm, thấy hoàn cảnh ái ngại mới gợi ý cho Hoàng Cát gửi một bài thơ mới, anh sẽ giúp đăng để có chút nhuận bút. Hoàng Cát nói đại ý: Lâu rồi mình chưa viết được bài nào tâm đắc, nhưng có một bài thơ của Xuân Diệu tặng riêng mình đã lâu, đọc cảm động lắm, có thể công bố được…” (Mối “tình trai” của nhà thơ Xuân Diệu và nhà thơ Hoàng Cát)

Thứ quà tặng tình yêu có giá trị thực tiễn như vậy mãi cả khi người yêu đã mất rồi (nhưng chuyện kể rằng sau Hoàng Cát cũng không lấy được nhuận bút, ai đó đã lấy mất). Hoàng Cát cứ khẳng định không yêu mà chỉ thương Xuân Diệu, thương lắm. Nghe vậy, mình không thấy cảm tình.

Ở mối quan hệ với Tô Hoài mà Tô Hoài kể lại trong “Cát bụi chân ai” (1993), Xuân Diệu cũng là kẻ đem cho. Mình không thấy dễ chịu với cách viết của Tô Hoài, không phải vì nghĩ rằng Tô Hoài đã “bêu xấu” Xuân Diệu, mà mình hơi bảo thủ, muốn một cách viết có sự giữ gìn cho người khác hơn, dẫu là người ta chẳng còn sống trên đời. Và tại một người như mình chẳng hạn, sẽ cứ phải nghĩ làm thế nào để có thể khóa hết các hòm thư và tài khoản trước lúc chết, để không có ai đó vào mà lục lọi những chuyện riêng tư. Tô Hoài có lẽ muốn viết sử, biến con người ta thành những đối tượng của lịch sử. Như Ngô Thanh nói, khi nhận xét về phim của Trần Khải Ca (Bá Vương Biệt Cơ), có những người cứ “bị d/giương ra thành các mẫu vật cho lịch sử.” Nhưng cụm từ ấy đúng hơn để nói về cách người ta đã kiểm điểm Xuân Diệu, khiến ông phải khóc nức nở.

Xuân Diệu yêu, “thây kệ thiên đường và địa ngục.” Kẻ đem cho ấy không có cái diễm phúc của một người được nhận, khi thực hiện vai trò đem cho của mình cũng tủi thân vì không được đáp lại một cách trọn vẹn. Vì còn những trật tự xã hội ở đó, người ta nhận lấy ân tình nhưng không đủ hết mình để “thây kệ” chúng (những trật tự xã hội), để yêu. Không chỉ là trong luyến ái lứa đôi. Tình luôn đặt ra vấn đề về sự cơi nới, lung lay các trật tự xã hội.

Xuân Diệu là người thầy trực tiếp, tỉ mẩn sửa thơ cho nhiều nhà thơ, trong đó có Trần Đăng Khoa. Khi viết “Chân dung và đối thoại,” vị trí trang trọng đầu tiên Trần Đăng Khoa dành cho Tố Hữu, sau đó mới tới Xuân Diệu. Đành rằng thơ Trần Đăng Khoa giống thơ Tố Hữu hơn, nhưng đặt Tố Hữu trước Xuân Diệu vẫn là trọng lý hơn trọng tình.

0 Thích
Chia sẻ
  • Chia sẻ Facebook
  • Chia sẻ Twitter
  • Chia sẻ Zalo
  • Chia sẻ Pinterest
In
  • Điều khoản sử dụng
  • Chính sách bảo mật
  • Cookies
  • RSS
  • Điều khoản sử dụng
  • Chính sách bảo mật
  • Cookies
  • RSS

Trang thông tin tổng hợp melodious

Website melodious là blog chia sẻ vui về đời sống ở nhiều chủ đề khác nhau giúp cho mọi người dễ dàng cập nhật kiến thức. Đặc biệt có tiêu điểm quan trọng cho các bạn trẻ hiện nay.

© 2026 - melodious

Kết nối với melodious

vntre
vntre
vntre
vntre
vntre
Lịch âm hôm nay 789club Sun win
Trang thông tin tổng hợp
  • Trang chủ
  • Công Nghệ
  • Ẩm Thực
  • Kinh Nghiệm Sống
  • Du Lịch
  • Hình Ảnh Đẹp
  • Làm Đẹp
  • Phòng Thủy
  • Xe Đẹp
  • Du Học
Đăng ký / Đăng nhập
Quên mật khẩu?
Chưa có tài khoản? Đăng ký