Nhóm nghiên cứu của UNC Việt Nam- dưới sự dẫn dắt của Tiến sĩ Vivian Go và Tiến sĩ Bill Miller, các nhà nghiên cứu thuộc Viện Sức khỏe Toàn cầu và Bệnh truyền nhiễm của UNC, phối hợp cùng Trường Đại học Y Hà Nội và Bộ Y tế Việt Nam - vừa công bố một phát hiện quan trọng: Việc hiệu chỉnh các chiến lược triển khai phù hợp với nhu cầu của từng cơ sở y tế đã cải thiện đáng kể kết quả thực hiện can thiệp dự phòng HIV đã được chứng minh hiệu quả cho người tiêm chích ma túy.
Theo kết quả đăng tải trên tạp chí The Lancet, nghiên cứu đã giúp giải quyết một thách thức y tế toàn cầu: Làm thế nào để triển khai hiệu quả can thiệp dựa trên bằng chứng “Tư vấn và hỗ trợ chuyển gửi điều trị HIV” (SNaP) tại các bối cảnh y tế khác nhau. Mặc dù SNaP đã được chứng minh giúp tăng tỷ lệ bắt đầu điều trị HIV và mức độ ức chế virus, nhưng chiến lược tối ưu để mở rộng can thiệp trong thực tế vẫn chưa rõ ràng.
Vivian và Bill Miller
“Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ngay cả trong các hệ thống quản lý y tế tập trung cao độ, một cách tiếp cận linh hoạt dựa trên đặc điểm địa phương vẫn có thể tối ưu hóa các can thiệp dựa trên bằng chứng” Tiến sĩ Go, Giáo sư về Hành vi sức khỏe tại Trường Y tế công cộng Toàn cầu Gillings và Giám đốc Quốc tế của UNC Việt Nam chia sẻ.
Nghiên cứu này đánh dấu một mốc quan trọng trong nỗ lực của Việt Nam nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và cải thiện kết quả điều trị HIV cho người tiêm chích ma túy, nhóm đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề bởi HIV và thường ít được tiếp cận với hệ thống y tế truyền thống.
Mục đích và thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu tuyển chọn 277 nhân viên y tế và 723 người tiêm chích ma túy nhiễm HIV tại 42 cơ sở xét nghiệm HIV thuộc 10 tỉnh và thành phố tại Việt Nam nhằm đánh giá hai phương pháp mở rộng can thiệp SNaP. Các cơ sở xét nghiệm HIV được lựa chọn dựa trên số lượng xét nghiệm HIV được thực hiện, tỷ lệ dương tính với HIV và quy mô dân số tiếp cận dịch vụ tại cơ sở. Người đủ điều kiện tham gia nghiên cứu phải từ 18 tuổi trở lên, không sử dụng thuốc kháng retrovirus tại thời điểm tham gia nghiên cứu và có tiêm chích ma túy trong vòng sáu tháng trước đó.
42 cơ sở xét nghiệm HIV được chia ngẫu nhiên vào một trong hai nhóm can thiệp. Đối với nhóm đồng nhất, các cơ sở thực hiện một gói can thiệp cố định gồm 15 chiến lược cốt lõi. Đối với nhóm can thiệp tùy chỉnh, các cơ sở sử dụng 15 chiến lược cốt lõi cộng thêm 10 chiến lược bổ sung do chính cơ sở tự lựa chọn dựa trên các rào cản riêng tại địa phương.
“Việc đánh giá trước khi triển khai và đánh giá liên tục rất quan trọng để mỗi cơ sở xác định các rào cản hoạt động của riêng mình, chẳng hạn như thiếu hụt nhân sự, thách thức về quy trình làm việc hoặc các vấn đề về tương tác với khách hàng. Sau đó, các cơ sở có thể lựa chọn các chiến lược để trực tiếp giải quyết những rào cản đó,” Tiến sĩ Miller, Giáo sư Dịch tễ học tại Trường Gillings cho biết.
Kết quả chính là mức độ tuân thủ, nghĩa là mức độ mỗi cơ sở nghiên cứu thực hiện can thiệp SNaP theo đúng thiết kế, và việc bắt đầu điều trị HIV. Kết quả hiệu quả thứ cấp là tỷ lệ điều trị HIV và điều trị rối loạn nghiện chất dạng thuốc phiện và ức chế tải lượng virus.
Những phát hiện chính
- Mức độ tuân thủ cao hơn trong triển khai SNaP: Các cơ sở nghiên cứu trong nhóm tùy chỉnh đạt được điểm tuân thủ cao hơn đáng kể so với các cơ sở nghiên cứu trong nhóm đồng nhất.
- Hầu như tất cả người tham gia nghiên cứu bắt đầu điều trị HIV: Gần như tất cả những người nhận can thiệp SNaP đều bắt đầu điều trị HIV (ở cả nhóm tùy chỉnh và nhóm đồng nhất).
- Mức độ ức chế virus tốt hơn: Trong nhóm tùy chỉnh, người tham gia đạt mức độ ức chế virus cao hơn đáng kể, chứng minh rằng chất lượng triển khai tốt hơn dẫn đến kết quả lâm sàng tốt hơn.
Sự kết hợp giữa các chiến lược đồng nhất và chiến lược tùy chỉnh đã chứng tỏ hiệu quả hơn so với chỉ sử dụng các chiến lược đồng nhất, cho thấy mô hình “một cho tất cả” kém hiệu quả hơn trong các bối cảnh y tế phức tạp. Nghiên cứu không những chứng minh rằng tùy chỉnh chiến lược can thiệp ở quy mô lớn là khả thi mà còn cung cấp một mô hình can thiệp có thể nhân rộng cho các quốc gia và chương trình khác.
Viện Sức khỏe Toàn cầu và Bệnh truyền nhiễm UNC
Được thành lập vào năm 2007, Viện Sức khỏe Toàn cầu và Bệnh truyền nhiễm UNC thuộc Trường Y khoa UNC bắt đầu hoạt động hơn 30 năm trước với các nhà nghiên cứu y khoa chuyên về bệnh truyền nhiễm nghiên cứu về HIV ở Trung Quốc và Malawi. Qua nhiều năm, công việc của chúng tôi đã mở rộng bao gồm các mầm bệnh mới nổi, ung thư, sức khỏe phụ nữ và các bệnh do côn trùng truyền như sốt rét - định hình chính sách thông qua nghiên cứu dựa trên bằng chứng trên toàn thế giới. Tại UNC-Chapel Hill, Viện tạo điều kiện thuận lợi cho sự xuất sắc trong nghiên cứu đồng thời nuôi dưỡng các nhà khoa học trẻ để nâng cao chăm sóc và thực hành bệnh nhân, giải quyết các vấn đề sức khỏe toàn cầu quan trọng nhất hiện nay - thông qua nghiên cứu, đào tạo và phục vụ.